NGƯỜI THẦY VÙNG CAO
Huyền thoại về “làng bắt cọp”
Chuyện bắt cọp bằng tay với những vật dụng thô sơ… sẽ khiến mọi người không khỏi ngạc nhiên trước tài năng vô cùng đặc biệt của những lão nông này.
Chúng tôi may mắn được về làng Thủy Ba "huyền thoại" và được đến tận từng nhà hỏi các già làng về chuyện bắt cọp, thức với đám thanh niên trai tráng một đêm ở miền sơn cước bập bùng những câu chuyện xưa trong men rượu và lửa, đến phòng truyền thống xã Vĩnh Thủy nghe giới thiệu về "cổ vật" quý giá của làng Thủy Ba xưa: Lưới và chiếc đinh ba- những vũ khí bắt cọp lẫy lừng…

Trường đấu cọp quyền tại Huế vẫn còn nguyên dấu tích
Gặp người cuối cùng… bắt cọp
Thủy Ba là một làng bán sơn địa, có sông, có núi, có đồng bằng… Núi ở đây được miêu tả trong Đại Nam nhất thống chí là ngọn núi Linh Sơn có hình con voi án ngữ ngay giữa làng. Phía đông hướng ra biển là một cánh đồng trù phú, phía Tây của làng dựa vào vách của đại ngàn Trường Sơn, mạch nước nguồn trong veo chảy ra từ núi rừng ấy lượn quanh ôm lấy làng như những dải lụa mềm mại. Chính vì vẻ đẹp hoang sơ ấy mà mấy mươi năm trước loài chúa sơn lâm đã về đây trú ngụ rất nhiều và cũng đã gây ra không ít tai họa cho dân làng.
Cụ Nguyễn Đăng Hạp, năm nay đã gần 100 tuổi, lão nông duy nhất còn lại của đội quân tham gia bắt cọp ngày ấy tự hào kể lại "Khu vực Trị Thiên nói chung, và Thủy Ba, Vĩnh Thủy nói riêng ngày ấy cọp nhiều và hung dữ lắm. Cọp bắt người, trâu bò… khiến dân làng khiếp sợ. Đêm đến, cọp mò vào tận làng bắt người tha vào rừng ăn thịt. Đã có hàng trăm người dân phải mất mạng. Nhiều người cọp chỉ ăn một nửa, một nửa thi thể thả lại giữa rừng rậm. Có người bị cọp vồ hụt khiến tàn tật suốt đời.

Cụ Hạp, người cuối cùng còn sống trong đội quân bắt cọp của làng Thủy Ba vẫn hay kể về huyền thoại bắt cọp của làng cho con cháu nghe
Như được khơi nguồn về những chiến công ngày ấy, cụ Hạp hăng say khua tay, múa chân kể lại cho chúng tôi huyền thoại bắt cọp của làng. Theo cụ, cách thức bắt cọp thời ấy rất thô sơ. Để bắt được cọp thì có nhiều cách: đặt bẫy, giăng lưới… Mỗi con cọp có một chiêu thức bắt hoàn toàn khác nhau. Con thì đào hố đặt chông, con thì bủa vây giăng lưới bắt sống… con thì dùng giáo mác đâm chết tại chỗ…
Sở dĩ như vậy là do có nhiều loại cọp, loại cọp thân lùn, loại cọp thân dài và loại thân cao… Loại cọp thân ngắn thì hễ nghe động là quay đầu lại và chạy mất hút vào rừng, cọp thân dài thì ỉ thế dương oai… nghe động là phi đầu chạy về phía trước như để tấn công kẻ nào cản đường của nó… nhưng cũng có con nghe động là nó "án binh bất động" chờ thời cơ… Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là loại cọp ba chân. Cọp ba chân là cọp thường bị dân làng đặt bẫy hoặc đã bị bộ đội bắn gãy một chân được coi là thành tinh. Loại cọp này sau khi thoát chết thường quay lại làng để tìm người trả thù. Cách thức nó về làng để trả thù là thoắt ẩn thoắt hiện và khó khăn lắm những lão nông của làng mới bắt được nó - cụ Hạp nói.
Theo cụ Hạp, việc bắt cọp thời ấy phải được bố trí từng trận đồ "chiến đấu" khác nhau cho phù hợp với từng trận đánh, đề phòng cọp chạy thoát thì sau này sẽ quay về làng gây ra nhiều thảm họa. Trai tráng trong làng được tuyển vào đội quân bắt cọp phải từ 20 tuổi trở lên, ngoài sức khỏe ra thì phải thông thạo ít nhất vài ba miếng võ cổ truyền…
Trận đồ bắt cọp hiệu quả nhất mà cụ Hạp và những thanh niên trai tráng vẫn hay sử dụng là những mảnh lưới, cùng với những cây đinh ba, giáo mác… Lưới kết bằng một loại cây thân leo ở rừng già, to bằng bắp tay người lớn. Cây này được đập dập cho đến lúc nhũn, bóc bỏ lớp vỏ ngoài và nấu nung bằng lửa than. Việc kết lưới rất công phu, vài tháng trời mới xong một tay lưới, chiều dài 15-20m, cao 4-5m, ô lưới rộng 10cm…
Nhiều tài liệu cho thấy, những năm 1930- 1940, miền đất Thủy Ba vẫn ngút ngàn rừng già với lắm thú dữ, nhiều nhất là cọp. Cọp rình rập quanh làng, bắt người và trâu, bò. Nhiều con khôn ranh đến nỗi đêm đến sục vào khu dân cư, dùng đuôi "gõ cửa" nhà, chủ nhà tưởng có người kêu, dậy mở cửa là bị cọp vồ.
Sau khi đã hoàn thành việc bủa lưới bao vây, đội quân bắt cọp được bố trí vào những vị trí chiến đấu, trong đó hai người đóng vai trò đặc biệt quan trọng là anh Cai và anh Thập. Hai anh này có khả năng nhìn bao quát được địa hình và phán đoán chính xác sự di chuyển của con cọp. Sau khi phát lệnh tấn công, họ đảm nhận nhiệm vụ khép các góc lưới và tiên phong vào đè cổ, đè bụng, trói mồm con cọp…

Lưới bắt cọp của những lão nông làng Thủy Ba bây giờ là báu vật của con cháu mỗi khi nhắc đến huyền thoại bắt cọp của làng
Triều đình triệu tập làng… cọp
Tương truyền, sau khi vua Nguyễn đã xây dựng xong kinh đô Huế, rừng rậm còn bao vây bốn phía. Hổ thường xuyên mò về, đi nghênh ngang trên đường. Chuyện hổ về kinh làm nhà Vua không yên. Năm Nhâm Thìn 1832, vua Thiệu Trị đã xuống chiếu sức 400 thanh niên trai tráng của Thủy Ba vào bắt cọp. Sau chiếu Vua ban, những lão nông Thủy Ba vui mừng lên đường.
Những câu vè: "Mùng sáu sắc lệnh Vua ra/ Tư tờ xuống phủ đòi Tổng Thủy Ba đi liền/ Đòi vô mần ải Thừa Thiên/ Giữ ma độc nước không yên những là..." ngày nay vẫn được người dân Thủy Ba từ già đến trẻ thường xuyên hát, nhất là trong các dịp lễ hội để ôn lại truyền thống của dân làng. Và sau đợt bắt cọp thành công đó, triều đình nhà Nguyễn đã trọng thưởng tiền bạc và phong sắc cho một số người tiêu biểu trong làng.
Triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ tại Huế đã ban lệnh thành lập một đội quân dân làng Thủy Ba, xã Vĩnh Thủy thường xuyên có mặt tại vùng đất kinh thành Huế để giúp nhà vua bắt cọp dữ. Công việc bắt cọp để yên dân trở thành nhiệm vụ quốc gia được triều đình giao cho dân làng Thuỷ Ba. Về sau, những lão nông bắt cọp ở Thủy Ba còn được vua Nguyễn triệu tập bắt những con cọp khỏe mạnh về phục vụ cho các trận sát đấu với voi ở trường Cọp quyền tại cung đình Huế (hiện nay trường đấu cọp quyền vẫn còn nguyên dấu tích).
Di tích Trường đấu cọp quyền này là một công trình kiến trúc hình vành khăn. Vòng ngoài có chu vi 140m, cao 4,5m. Vòng trong chu vi 110m, cao 6m. Khoảng cách giữa hai vòng là 4m. Tường xây bằng gạch vồ, rộng hơn 1m.
Vòng trong có một cửa lớn rộng 1,9m, cao 3,9m, là lối vào đấu trường của voi. Đối diện với khán đài của vua có năm cửa nhỏ, gọi là cửa chuồng cọp. Ngày xưa, voi là binh chủng xung kích của bộ binh, có thể ví như xe tăng bây giờ. Những trận đấu của voi và cọp có mục đích là huấn luyện cho voi có thêm kỹ năng chiến đấu chứ không đơn thuần chỉ để mua vui cho người xem. Voi đưa vào đấu trường là voi đã được thuần dưỡng. Cọp thì vẫn còn nguyên thú tính hoang dã và hung dữ.
Voi có sức mạnh nhưng nặng nề chậm chạp. Cọp có nanh vuốt sắc bén, nhanh nhẹn và có nghề. Nếu đánh nhau với cọp thì voi không chết cũng bị thương vì võ của cọp rất hiểm. Bởi thế trước khi được đưa ra đấu trường, cọp đã bị cắt trụi móng vuốt và bẻ hết răng nhọn. Ngoài ra voi còn được tượng binh bảo vệ phòng khi thất thế. Trận đấu như thế rất không công bình và khi nào cũng kết thúc bằng cái chết của cọp.
Người được vua Nguyễn ban tặng sắc phong, của cải… như "Ngân vàng, Ngân bạc" vì tài năng bắt cọp dữ là cụ Nguyễn Quang Mẫn, ông Nguyễn Chẻng, ông Cai Dẫn, ông Lê Bằng… và một số người được sung làm người đứng đầu "lính vọng thành" để bảo vệ triều đình Huế.
Theo lão nông Hạp, cọp hung dữ là thế, song nó cũng có những bí mật về "tính nết" mà đến nay ít ai giải thích được. Rằng cọp khi vồ mồi, không kể người hay trâu bò, nếu vồ trúng phải tai, là bỏ lại không ăn. Hoặc khi cọp bắt được mồi, tha vào núi, bao giờ cũng dựng mồi ngồi hoặc nằm tựa vào gốc cây rồi mới ăn thịt. Cọp ăn mồi cũng rất lạ, luôn móc mắt, lôi tim, gan, ruột ăn trước. Nếu gặp con mồi do cọp khác ăn thịt dở dang bỏ lại mà ăn ngược từ chân ăn lên thì người ta gọi là cọp bị "trở mồi". Con cọp nào đã "trở mồi" là điềm báo rằng nó sẽ chết, không vì người săn thì cũng dính bẫy…
Cao Thị Kiều Oanh @ 20:32 11/03/2012
Số lượt xem: 485
- Sông Bến Hải (03/03/12)
- THÀNH CỔ CHIỀU NAY (03/03/12)
- Dắt em về Quảng Trị (03/03/12)
- Mai em về Quảng Trị - Nguyễn Văn Long (20/12/11)
- GỞI VỀ QUÊ MẸ (21/11/11)



BẠN ĐẾN THĂM TÔI!