Cuộc đời như chớp mắt.

CÁC BẠN ĐẾN NHÀ.

0 khách và 0 thành viên

NHẮN NHỦ MẾN THƯƠNG.

NGHỀ CAO QUÝ.

BLOG CỦA KIỀU OANH.

SỐ LƯỢT GHÉ THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (KIỀU OANH)
    • (Kieuoanhcao@gmail.com)

    Cuộc sống quanh tôi.

    270.jpg Sang_ngang1.swf P1090549.jpg Mua_xuan_dau_tien2.mp3 CGVC.swf Pleiku_Than_Yeu__Tay_Nguyen.mp3 Tinh_khuc_buon_loan.swf Pleiku_Than_Yeu__Tay_Nguyen1.mp3 01_CHUC_MUNG_2011_.jpg KY_NIEM_TRUONG_XUA.swf 02_BONG_HONG_TANG_CO.swf Phuongyeuswf2.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png CHUC_MUNG_83_.swf CHUC_MUNG_QTPN.swf

    Vui vui!

    LIÊN KẾT

    GIẢI TOÁN TRÊN INTERNET

    KẾT NỐI THÂN THƯƠNG

    Hãy nhìn về phía trước, bạn sẽ thấy cuộc đời luôn tươi sáng!

    ĐÔI BỜ QUÊ TÔI

    CHÀO MỘT NGÀY MỚI

    Lời của danh nhân.

    Gốc > TÌM HIỂU THẾ GIỚI TÂM LINH >

    NGUỒN GỐC KINH DỊCH


     
       Sưu tầm : Hà Vũ Băng
     
    Theo sách Chu Lễ thì Dịch gồm có 3 bộ là :
    1- Liên Sơn
    2- Quy tàng 
    3- Chu Dịch
     
    Hai bộ Liên Sơn và Quy tàng đã bị lạc mất, chỉ còn lưu lại Bộ Chu Dịch mà thôi. Nay chúng ta thường gọi là Kinh Dịch.
    Theo Hồ văn Phong, thì Liên Sơn là của nhà Hạ, bắt đầu bằng quẻ CẤN, Quy tàng là của nhà Thương bắt đầu bằng quẻ KHÔN, và Chu Dịch là của nhà Chu bắt đầu bằng quẻ KIỀN.
    Đỗ Tử Xuân thì cho rằng : Liên Sơn là của Phục Hy; Quy tàng là của Hoàng đế.
    Theo Trịnh Huyền trong Dịch luận cũng viết : Đời Hạ thì có Liên Sơn; Đời Ân thì có Quy tang; Đời Chu thì có Chu Dịch.
    Theo sách Chu Lễ thì : Liên Sơn Dịch lấy quẻ Thuần Cấn làm đầu mối. Cấn là núi, núi trên, núi dưới nên gọi là Liên Sơn.
    Quy tàng Dịch lấy quẻ Thuần Khôn làm đầu mối; Khôn là đất, vạn vật không vật nào không trở về tàng ẩn nơi trong đất, bởi vậy nên gọi là Quy tàng.
    Chu Dịch lấy quẻ Thuần Kiền làm đầu mối. Kiền là Trời thì hay chu hành bốn phương nên gọi là Chu.
     
    NỘI DUNG VÀ TÁC GIẢ :
     
    Chu Dịch (Dịch Kinh) gồm có hai phần:
    1- Phù hiệu
    2- Văn tự
    Đầu tiên chỉ có phù hiệu, nghĩa là chỉ có những nét vẽ để làm biểu tượng cho sự vận hành của Âm Dương.
    Truyền thuyết cho rằng Phục-Hy sáng chế ra những phù hiệu ấy ông dùng một vạch liền ___ biểu thị cho khí Dương, vạch đứt đoạn __ __ để biểu thị cho khí Âm.



    Lấy số thứ tự của tiên thiên bát quái làm căn bản; Kiền nhứt, Ðoài nhì ; Ly tam, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục ; Cấn thất, Khôn bát.

    CÔNG DỤNG CỦA CÁC QUẺ :

       Bàn về các quẻ trong Dịch kinh , đối với triết học, thì mỗi quẻ là tượng trưng một trạng thái từ đầu đến cuối, từ lúc khai thiên đến hồi tịch địa . Vì thế cho nên Vũ trụ quan và Nhân sinh quan của Dịch đều nằm trong 64 quẻ, và gọi Dịch học là cái học “ Thiên nhơn hợp   nhất ”. Vũ trụ quan và nhân sinh quan là một không thể rời nhau.
       Nhưng Âm Dương là căn bản của Vũ trụ hiện tượng , thì quẻ Kiền , quẻ Khôn là đầu mối của tất cả các quẻ trong Dịch kinh, nghĩa là đầu mối của mọi cuộc biến thiên trong Vũ trụ.
       Kiền quái có 6 gạch liền. Mỗi lằn gạch là tượng trưng một trạng thái về lẽ Trời cũng như về việc người. Trong một năm 12 tháng , 6 tháng thuộc dương,6 tháng thuộc âm. Mười hai tháng ấy được tượng trưng trong 12 quẻ, là quẻ Phục ( tháng 11 ), ở Tý cung, thuộc tiết Ðông chí; quẻ Lâm ở Sửu ; quẻ Thái ở Dần ; quẻ Ðại tráng ở Mẹo ; quẻ Quải ở Thìn ; quẻ Kiền ở Tỵ ; quẻ Cấu ở Ngọ ; quẻ Ðộn ở Mùi ; quẻ Bĩ ở Thân ; quẻ Quán ở Dậu ; quẻ Bác ở Tuất ; quẻ Khôn ở Hợi (đều do luật tiêu trưởng mà lập thành ) : Âm tiêu Dương trưởng, Dương tiêu Âm trưởng.

    B . VĂN TỰ

    Về phần văn tự cũng chia làm 2 phần :

    1.  Kinh hay là Dịch kinh
    2.  Truyện hay là Dịch truyện

    a) Dịch kinh thì do các bậc thánh nhân viết ra, hoặc nói ra, hoặc do các đệ tử ghi lại.

    b)  Dịch truyện, có khi do các bậc thánh nhân viết ra, hoặc do các đệ tử hay hậu học viết ra để giải rộng thêm  ý nghĩa của lời kinh. Cho nên Truyện, tức là kinh được giảng rộng hoặc để bổ túc ý nghĩa của kinh văn. Cũng như Tả Truyện là do Kinh Xuân Thu mà tán rộng vậy.

       Nói đến Truyện và Kinh không khác nào nói đến “ cây có cội, nước có nguồn”, không thể phân ra mà luận được.

          2. Tượng từ có 2 phần:
    a)   Đại tượng
    b)   Tiểu tượng
         Đại tượng là để giải thích về cái tượng của toàn quẻ. Như câu: Tượng viết: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” của quẻ Kiền.

         Tiểu tượng là để giải thích cái tượng của từng hào trong quẻ     ( hào từ ). Như những đoạn văn : “ Tiềm long vật dụng, Dương tai hạ dã (…..) Dụng cửu, thiên đức bất khả vi thủ dã” đều là để giải về cái tượng của từng hào trong quẻ Kiền, nghĩa là từ hào “ sơ cửu” đến hào “ dụng cửu”.

          3. Hệ từ

         Hệ có nghĩa là hệ thống. Tức là tìm cách hệ thống hóa triết lý nằm trong Dịch Kinh , truy đến căn nguyên ý nghĩa Kinh Dịch, hoặc giải thêm ý nghĩa của các Quẻ để bổ sung ý nghĩa của Thoán từ và Tượng từ, hệ từ cũng phân ra làm 2 phần : thượng truyện và hạ truyện. Thượng truyện có 12 chương : Hạ truyện 11 chương.

         4. Văn ngôn      

        Văn ngôn là “ văn sức chi ngôn” ( lời nói văn hoa ), chuyên giải thích 2 quẻ Kiền và Khôn mà thôi. Là vì quẻ Kiền và Khôn là chổ ra vào của Dịch học và là đầu mối của tất cả các quẻ khác. Tất cả mọi Quái Hào trong 64 quẻ của Kinh Dịch đều do 2 quẻ ấy mà ra cả. Theo các bản Dịch ngày nay, văn ngôn được sắp vào 2 quẻ Kiền và Khôn. Các quẻ khác không có.

    5. Thuyết quái                                                                

         Thiên này chuyên dùng để bày giải các Tượng, bàn về sự biến hóa và pháp tượng của Bát Quái.

    6.   Tự quái                                                                  

         Thiên này dùng để thuyết minh về thứ tự của sự “ tương thừa tương sinh” của 64 quẻ trong kinh Dịch, tức là cái lý do vì sao Quẻ này tiếp nối Quẻ kia, từ quẻ Kiền, quẻ Khôn… đến quẻ Ký tế và Vị tế.

    7.   Tạp quái

         Thiên này đưa ra một số định nghĩa, căn cứ vào tính chất của các quẻ trong 64 quẻ.
                        *
    TÁC GIẢ CỦA THẬP DỰC ( DỊCH TRUYỆN )
          Tương truyền vua Văn Vương nhà Chu, khi bị giam ở Dữu Lý ( 1144-1142 ) diễn lại các quẻ Dịch theo hình từng quẻ mà cắt nghĩa toàn quái, gọi là Thoán từ. Đến đời con là Chu Công Đán lại đem ra từng hào trong quẻ mà cắt nghĩa, gọi là Hào từ. Lúc đó ý nghĩa bói toán chiếm phần lớn, còn ý nghĩa về triết học đạo đức chưa được xiễn minh cho lắm. Qua Khổng Tử mới chú trọng về đạo lý.

          Khổng Tử theo Thoán từ của Văn Vương và Hào từ của Chu Công mà giảng rộng thêm, nên gọi là Thoán Truyện và Tượng Truyện. Giải cái Tượng của các quẻ, thì gọi là Đại tượng; giải các tượng của mỗi hào, thì gọi là tiểu tượng. Lại còn viết thêm những thiên Hệ từ Truyện, Thuyết quái Truyện, Tạp quái Truyện,  ( gồm tất cả 10 thiên, nên gọi là Thập dực hay Dịch Truyện ).

    Nhắn tin cho tác giả
    Cao Thị Kiều Oanh @ 07:30 12/03/2011
    Số lượt xem: 903
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    MỖI NGÀY ĐỌC MÀ NGẪM.

    LIÊN KẾT THÀNH VIÊN