NGƯỜI THẦY VÙNG CAO
ÔN TẬP TRIẾT HỌC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Trần Quang Hợp
Người gửi: Cao Thị Kiều Oanh (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:10' 14-08-2011
Dung lượng: 170.0 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn: Trần Quang Hợp
Người gửi: Cao Thị Kiều Oanh (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:10' 14-08-2011
Dung lượng: 170.0 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Câu I:Mối quan hệ giữa vật chất va ý thức cuả triết học mãcxit. Vận dụng mối quan hệ đóđể phân tích, phê phán bệnh chủ quan duy ý trí và phân tích bài học kinh nghiếmau nay của Đảng ta.
Đảng ta phải luôn luôn xuất phát từ thực tế , tôn trọngvà hành động theo qui luật khách quan . năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện lảnh đạo của Đảng .(VB. VI. Trang 20 )
Bài làm
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất . Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người .
Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác (Lênin toàn tập 8 ,nhà xuất bản tiến bộ Maxcơva-1980. trang 151).
Định nghĩa trên thể hiện mấy nội dung sau :
Vật chất là một phạm trù triết học : Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày .
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất .
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” . Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước ( tính thứ nhất) . Còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ hai ) . Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức .
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh” .Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con người có thể nhận thức được . Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức ).
Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới , những thuộc tính mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại .
Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội . Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất .
Yù thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan . Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chất như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm.
Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan , củng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác , sáng tạo thế giới .
Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận thông tin ,cải biến thông tin trên cơ sở cái đã có ,ý thức sẽ tạo ra tri thức mới về vật chất . Ý thức có thể tiên đoán , tiên liệu tương lai , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giả thiết khoa học …. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan .
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người ,song đây là sự phản ánh đặc biệt –phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới . Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt
Đảng ta phải luôn luôn xuất phát từ thực tế , tôn trọngvà hành động theo qui luật khách quan . năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện lảnh đạo của Đảng .(VB. VI. Trang 20 )
Bài làm
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất . Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người .
Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác (Lênin toàn tập 8 ,nhà xuất bản tiến bộ Maxcơva-1980. trang 151).
Định nghĩa trên thể hiện mấy nội dung sau :
Vật chất là một phạm trù triết học : Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày .
Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất .
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” . Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước ( tính thứ nhất) . Còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ hai ) . Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức .
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh” .Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con người có thể nhận thức được . Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức ).
Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới , những thuộc tính mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại .
Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội . Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất .
Yù thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan . Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chất như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm.
Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan , củng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác , sáng tạo thế giới .
Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận thông tin ,cải biến thông tin trên cơ sở cái đã có ,ý thức sẽ tạo ra tri thức mới về vật chất . Ý thức có thể tiên đoán , tiên liệu tương lai , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giả thiết khoa học …. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan .
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người ,song đây là sự phản ánh đặc biệt –phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới . Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt
 









BẠN ĐẾN THĂM TÔI!