Cuộc đời như chớp mắt.

CÁC BẠN ĐẾN NHÀ.

0 khách và 0 thành viên

NHẮN NHỦ MẾN THƯƠNG.

NGHỀ CAO QUÝ.

BLOG CỦA KIỀU OANH.

SỐ LƯỢT GHÉ THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (KIỀU OANH)
    • (Kieuoanhcao@gmail.com)

    Cuộc sống quanh tôi.

    270.jpg Sang_ngang1.swf P1090549.jpg Mua_xuan_dau_tien2.mp3 CGVC.swf Pleiku_Than_Yeu__Tay_Nguyen.mp3 Tinh_khuc_buon_loan.swf Pleiku_Than_Yeu__Tay_Nguyen1.mp3 01_CHUC_MUNG_2011_.jpg KY_NIEM_TRUONG_XUA.swf 02_BONG_HONG_TANG_CO.swf Phuongyeuswf2.swf Mauchuvietbangchuhoadung.png CHUC_MUNG_83_.swf CHUC_MUNG_QTPN.swf

    Vui vui!

    LIÊN KẾT

    GIẢI TOÁN TRÊN INTERNET

    KẾT NỐI THÂN THƯƠNG

    Hãy nhìn về phía trước, bạn sẽ thấy cuộc đời luôn tươi sáng!

    ĐÔI BỜ QUÊ TÔI

    CHÀO MỘT NGÀY MỚI

    Lời của danh nhân.

    Gốc > TẢN MẠN >

    Vùng đất tình yêu


     

    Đồi chè Phú Thọ.

     Nhớ dịp Giỗ tổ Hùng Vương những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi cùng người bạn đồng nghiệp (một phóng viên của báo Cờ Đỏ - Tiệp Khắc trước đây) lên vùng đồi Phú Thọ. Trước lúc đi tác nghiệp, anh hỏi tôi:

    - Cảnh quan vùng đất quê anh sẽ có gì để nhớ? Được thể, tôi nói liền mạch như người thuyết minh chuyên nghiệp:

    - Đất quê tôi ư! Đất trung du đặc sắc. Đồi san sát như bát úp. Xen với đồi là những dãy núi không cao nhưng hình thù kỳ vĩ: Núi Phượng (ở Hạ Hoà) như con chim phượng đang giương cánh vỗ lên với trời xanh. Núi Thắm (ở Thanh Ba) hệt con giao long đang bơi trên lớp sóng rập rờn. Núi Trường Sà (ở Thanh Thuỷ) ngoằn ngoèo như rắn lội. Núi Ngọc Tháp (ở thị xã Phú Thọ) nhô lên bên vệ sông như một pháo đài thiên tạo. Núi đồi nơi đâu cũng chen xanh ngằn ngặt những sơn, những cọ, những chè, những chẩu, sở, dứa và dọc... Sườn núi, sườn đồi là những nương bậc thang với sắn, với vừng. Ruộng ôm lấy chân đồi bậc thang nom xa cứ như những lớp sóng sắp đặt tài ba của tạo hoá. Anh bạn xen vào nói như bắt nhịp với tôi: Đây là vùng đất đẹp, đất thiêng, đất khởi lập tổ tông Việt Nam. Bởi thế, người Việt Nam dù trú ngụ ở đất nước nào đi nữa, họ vẫn nhớ tìm về cội nguồn dân tộc, tìm về Phú Thọ nơi có Đền Hùng - Mộ tổ Hùng Vương. Dấu tích văn hoá ấy tôi nhận ra rất đậm trên mặt trống đồng từ thời đại hồng hoang của các Vua Hùng. Tôi rất hãnh diện được tới vùng đất cội rễ lịch sử bền chắc giữa vùng sinh thái thơ mộng, trữ tình này!...

    Rời núi Hùng, tên gốc là Đột Ngột Cao Sơn (theo Vũ Kim Biên) nơi đặt lăng mộ Vua Hùng thứ 6, chúng tôi lên vùng đồi Tiên Kiên. Anh bạn nhà báo của tôi cứ loay hoay, xoay xở đưa máy chụp lấy chụp để mấy cây cọ đứng chênh vênh bên vệ đồi. Tôi bảo: Cây cọ là loại cây đặc thù của Phú Thọ đó. Cọ mọc thành rừng ở vùng đồi Lâm Thao, Cẩm Khê, Thanh Ba. Cọ là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ tài ba của đất nước. Nghe tôi “thuyết trình”, anh đứng ngây ra, đôi mắt dồn cả vào cây cọ cao vút, dáng hiên ngang, thân chắc nịch, khoẻ khoắn như những dũng tướng của vùng đồi. Ngửa mặt lên trời, đôi mắt anh lại dán vào những tàu lá cọ xoè tán như tàn, như lọng, đội lấy trời, níu với lấy những vầng mây bảng lảng... Mãn nguyện bởi cảnh sắc ấy đã được thu vào ống kính, anh ngồi bệt xuống, tựa lưng vào gốc cọ, xoải đôi chân cao nghều, thư giãn, thở hít hương vị của vùng đồi, rồi hí hoáy ghi ghi chép chép những điều cần biết về cây cọ! Tôi bảo: ở vùng đồi này, cây cọ là cây kinh tế. Rằng, thân cọ làm cột nhà, cột điện, làm gỗ bắc cầu, làm máng dẫn nước. Cuống cọ để làm lạt, làm dui mè, làm củi, làm mành xuất khẩu. Công dụng lớn nhất của cọ là ở lá. Lá cọ già để lợp nhà, làm vách, làm chổi, làm bầu gánh phân, móm đựng hạt giống, làm quạt... Lá cọ non (búp cọ) để khâu nón, áo tơi, vặn thừng, đan làn... Tự dưng, trời trung du đổ mưa nhẹ. Chúng tôi vội kéo nhau lủi vào đám cọ non mới dăm bẩy tuổi. Tán lá như những chiếc nong, chiếc nia đan nhau che cho chúng tôi không hạt mưa nào chạm tới. Nghe những hạt mưa đập vào lá cọ ngân lên cứ như trời dội nước, anh bạn nhà báo ấy ngơ ngác: - Trời ơi. Mưa rất nhẹ mà sao những tàu cọ này gào to thế nhỉ? Chúng tôi ai nấy đều bật cười: - Vì cọ thương chúng ta đấy! Người phiên dịch chen vào: “Mưa rừng cọ, gió rừng thông” mà lỵ! Bất chợt những câu thơ- Mưa đêm rừng cọ- của nhà thơ Huy Cận bật nhớ trong tôi. Tôi cao hứng đọc đầy sức diễn cảm: “Rừng cọ đêm mưa đất cổ sơ/Hoa ngân, hương ngát tự bao giờ?/Cha ông đã ở mùa hương ấy!/Thơm đến ngày nay mỗi giọt mưa”. Anh bạn reo lên ồm ồm như vỡ giọng: Thì ra cọ là cây tâm linh, cây tình cảm, cây sinh tình!... Đúng lúc ấy, một đôi nam nữ men theo đường mòn bên vệ đồi, họ che mưa cho nhau bằng tàu lá cọ, giống như bây giờ ta đi chung một chiếc ô dưới trời mưa. Bệnh nghề nghiệp trỗi dậy, anh ta cầm máy, chạy tới, miệng lắp bắp nói lời xin lỗi rồi thu lấy thu để vào ống kính cảnh trữ tình, hồn nhiên cứ như cả đời này này anh ta mới thấy như vậy. Được thể, tôi càng tung hứng: Cho nên, tôi mới nói cọ quý nhất ở lá, lá làm nhà cho ta ở (tất nhiên bây giờ đã khác); lá che nắng che mưa cho đôi lứa yêu nhau, và cũng là cái cớ để cho họ ngỏ lời làm quen, ngỏ lời cầu duyên: “Đi đâu nón chẳng đội đầu/Lại đây hai đứa lấy tầu cọ che”. Anh bạn vừa cắm cúi ghi vừa bật máy ghi âm để không sót ý, sót lời. Tôi cũng say sưa như một kẻ diễn thuyết trên diễn đàn sôi động đầy hứng thú. Rằng, người quê tôi rất tự hào với những chiếc nón làm ra từ lá cọ, dù chiếc nón chỉ để đội đầu, vậy mà, dám sánh ngang, thậm chí thách đố với cả đồ trang sức mà thiên hạ từng tích tụ: “Nón ai nón bạc, nón vàng/Nón em tàu cọ che ngang mặt trời”. Anh bạn cười âm oang cả một góc đồi, rồi lớn giọng: - Tôi muốn có một chiếc nón cho người yêu tôi, có được không? Tôi đáp: Được chứ. Nón quê tôi nhiều lắm. Nón Vũ Ẻn, nón Phương Xá, nón Dịch Đồng. Nhưng anh cần nói rõ, nón để cho người yêu của anh hay người yêu anh ở đây? Nếu là người con gái ở đây đã yêu anh và đã là yêu nhau thì chả cần gì phải mua, phải bán, vì: “Nón em đã có nhời thề/ Chàng mà lấy nón em về sao đang/ Nón em che gió che mây/Che sao Bắc Đẩu, che người tri âm”. Còn nếu vì lẽ gì đó, chưa hiểu hết nhau, nhưng người ta đã trao nón cho mình cũng có nghĩa là mình sẽ có cơ để mà thổ lộ: “Nón nàng chả mất được đâu/Cũng như của cải để lâu trong nhà/Mất một thì anh đền ba/Dẫu cho mất cả, đền ta cho mình”, anh bạn nói như reo lên: - Ồ thế thì nhất định tôi phải có nón. Và làm mất nón là tất nhiên rồi. Liệu người ta có chấp nhận cho tôi được “đền” không? Chuyện vui làm chúng tôi quên đi khoảng cách chủ và khách. Quên đi xứ sở xa vời tận trời Âu.

    Đường xa, gối đã mỏi, rời rừng cọ, chúng tôi lần sang đồi chè. Dưới chân đồi chè có đường liên huyện trải cấp phối đi qua. Chúng tôi hướng về quán nước bên đường. Cứ lát lát, anh bạn lại dừng bước để nhìn, để ngắm như muốn ôm ấp cả trung du vào lòng. Sườn đồi phía bên, mấy cô gái hái chè dõi theo chúng tôi, khúc khích cười rồi cất giọng làm quen, rằng: “Trước nương sơn, sau lại nương chè/ Ước gì em được đi về cùng anh”. Tôi đứng lại đưa tay bấm mấy búp chè bên vệ đồi rồi hắng giọng cất nhời đáp: “Lạ lùng ta mới tới đây/Thấy chè thì hái biết cây ai giồng/Chè đâu thơm lạ thơm lùng/Thơm cả người hái, người giồng cũng thơm”.

     Chả biết vì nhẽ gì mà lúc ấy có bao lời ca dao, tục ngữ dân gian của vùng đồi mà tôi nhớ, đều xổ ra cả, đốt cháy tất cả mọi cung bậc. Bên ấy, các cô gái trẻ chưa kịp đối lại thì tôi đã tuôn nhời ướm hỏi: “Lạ lùng ta mới tới đây/Thấy gốc chè mạn, thấy cây chè đồi/Thấy em được nết được người…”. Không vừa, mấy cô gái ngừng tay hái chè, đưa nón vẫy vẫy, cất giọng ngọt ngào đo ướm: “Bên này nương, bên ấy cũng nương/Có phải nhân ngãi thì thương nhau cùng”. Bên này, tôi cũng lại đưa lời ướm đo, vẻ khiêm nhường: “Sang đây anh hỏi thực tâm/Chè xanh anh sánh với trầm nên chăng”.

    Ngồi nhâm nhi chén trà xuân trong quán nước vệ đồi, anh bạn nhà báo đưa nhời thủng thẳng:

    - Đúng là chè nơi đây thơm lạ thơm lùng. Chè đi vào ca dao dân gian, tình tứ, thấm đượm như hương vị của chè vậy!... Chị chủ quán nước, liếc xéo anh nhà báo rồi cất nhời tưng tưng:

    - Bên ấy đã có vợ chưa? Nếu chưa thì kiếm ấm đi, để đây kiếm người cho! Và rồi chị ra giọng nhắn nhe, khuyên nhủ: “Em về kiếm vốn  buôn chè/Để anh buôn ấm ngồi kề một bên/ Chè ngon nấu với ấm bền/ Chè ngon được nước, ấm bền được lâu”. Chúng tôi vỗ tay tán thưởng. Anh bạn nhà báo nước bạn, giọng trầm ấm: Hay lắm. Đây là vùng đất của tình yêu. Đất sinh tình từ cây quả, từ hoa lá. Dân tộc Xécbi có câu tục ngữ: “Hãy chọn vợ ngay giữa vụ gặt chứ không phải giữa đám khiêu vũ”. Lời này cũng ứng với đất này - Đồi gò trung du Phú Thọ.        

      Bút ký của Nguyễn Uyển


    Nhắn tin cho tác giả
    Cao Thị Kiều Oanh @ 15:51 11/04/2011
    Số lượt xem: 827
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    MỖI NGÀY ĐỌC MÀ NGẪM.

    LIÊN KẾT THÀNH VIÊN